trung tam vi bang van phong thua phat lai lap vi bang
Ngày nay để ghi nhận tính xác thực của một sự kiện, hành vi trong thực tế và có giá trị trước pháp luật; nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc lập vi bằng tại các Văn phòng thừa phát lại. Việc lập vi bằng vừa giúp các bên giảm được rủi ro của hợp đồng, giao dịch; vừa được sử dụng là chứng cứ hợp pháp chứng minh trước tòa. Tuy nhiên các trường hợp nào không được lập vi bằng? Xử phạt hành vi vi phạm khi lập vi bằng được quy định như thế nào? Đây là câu hỏi nhiều người thắc mắc. Để giải đáp các thắc mắc này, Trung tâm vi bằng Việt Nam mời bạn đọc cùng theo dõi nội dung bài viết dưới đây. Nếu có thắc mắc cần hỗ trợ; vui lòng liên hệ 0975.686.065 để được tư vấn.
MỤC LỤC
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định:
“Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này”
Như vậy, vi bằng là một tài liệu bằng văn bản có thể kèm theo các hình ảnh, âm thanh, video trong trường hợp xét thấy cần thiết.
Dựa trên khái niệm về vi bằng thì không phải chủ thể nào cũng có thẩm quyền lập vi bằng mà chức năng này được chỉ định riêng cho Thừa phát lại.
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định:
“1. Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạ; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án dân sự; tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan;”
Đây là chức danh bổ trợ tư pháp; có tính chất gần giống với luật sư, công chứng viên, thẩm phán,….Việc tuyển chọn và bổ nhiệm thừa phát lại cũng phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt.
Trường hợp bạn đang có nhu cầu lập vi bằng; hãy liên hệ với Trung tâm vi bằng theo số điện thoại 0975.686.065 (Zalo) để được tư vấn và hỗ trợ.
Căn cứ Điều 37, Nghị định 08/2020/NĐ-CP và các quy định về trường hợp Thừa phát lại không được lập vi bằng, cụ thể như sau:
Trong khi thực hiện các công việc, Thừa phát lại không được lập vi bằng có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa phát lại; của vợ hoặc chồng của Thừa phát lại; cháu ruột mà Thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
Điều này xuất phát từ nguyên nhân rằng khi Thừa phát lại lập vi bằng sẽ không đảm bảo được tính khách quan, trung thực. Và nếu có xảy ra tranh chấp, nếu Thừa phát lại đứng ra làm chứng thì mỗi quan hệ giữa các bên sẽ không đảm bảo giá trị.
Khoản 5 Điều 37 Nghị đinh 08/2020 NĐ-CP quy định một trong các trường hợp không được lập vi bằng là: Ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện nay, việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đai và một số bất động sản cần phải đăng ký thì mới được công nhận. Khi thực hiện các thủ tục chuyển quyền này phải thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực. Nếu không đăng ký, không có giấy tờ chứng minh, các bên rất dễ gặp các rủi ro, phát sinh các tranh chấp và không được pháp luật công nhận.
Để có thể sử dụng làm chứng cứ trước Toà khi xét xử và làm cơ sở cho việc thực hiện các giao dịch khác thì bắt buộc vi bằng phải có nội dung chính xác. Vi bằng phải do trực tiếp Thừa phát lại chứng kiến và lập theo yêu cầu. Pháp luật hiện nay chỉ cho phép Thừa phát lại thực hiện lập vi bằng và phải chịu trách nhiệm về vi bằng đã lập.
LIÊN HỆ LẬP VI BẰNG TẠI TRUNG TÂM VI BẰNG VIỆT NAM– ĐIỆN THOẠI/ZALO: 0975.686.065
Đời sống riêng tư; bí mật cá nhân; bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
Để lập được vi bằng chính xác, khách quan nhất Thừa phát lại phải nắm được thông tin đối tượng về các nội dung lập vi bằng. Các nội dung đưa vào vi bằng phải được sự chấp thuận của chính cá nhân, gia đình đó. Thừa phát lại không được tư ý lập vi bằng khi chưa được sự đồng ý.
Nội dung đưa vào vi bằng phải phù hợp với thuần phong mỹ tục; không trái đạo đức xã hội, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm; gây ảnh hưởng đến đời sống riêng tư của người khác.
Việc tự ý xâm phạm đến các quy định về an ninh quốc phòng; hoặc những người đang công tác, thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước có thể gây ra những hậu quả nhất định. Do đó không được lập vi bằng trong các trường hợp liên quan sau:
Giao dịch trái pháp luật được hiểu là giao dịch vi phạm các quy định của pháp luật được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ: Bà A và bà N có thoả thuận về việc vay tiền. Bà A cho bà N vay tổng số tiền là 250.000.000 đồng với mức lãi suất là là 5.000 đồng/1 triệu/ngày. Hai bên thoả thuận, và muốn lập vi bằng để làm cam kết thực hiện.
Tuy nhiên theo tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.
Bên canh đó tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng quy định: “Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Theo các quy định trên, giao dịch giữa bà A và bà N được xem là giao dịch trái pháp luật nên Thừa phát lại không được phép lập vi bằng.
Mặc dù đều là các chức danh bổ trợ tư pháp nhưng công chứng viên và thừa phát lại lại thực hiện những công việc khác nhau.
Thừa phát lại có chức năng thực hiện việc tống đạt; lập vi bằng; xác minh các điều kiện thi hành án,…Còn công chứng viên thực hiện các công việc như chứng nhận tính hợp pháp, xác thực của hợp đồng, giao dịch; chứng thực chữ ký; chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ,…
Chính vì vậy mà khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có quy định Thừa phát lại không được lập vi bằng trong trường hợp:
“4. Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính”.
XEM THÊM: NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC LẬP VI BẰNG
Tình huống: Anh Nam có 1 thửa đất chưa được cấp sổ, với diện tích 240m2 tại quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Ngày 02/10/2022, anh Nam bán lại thửa đất trên cho anh Bắc. Và anh Bắc muốn lập vi bằng ghi nhận việc mua bán đất này. Nên đến Văn phòng thừa phát lại X để thực hiện việc lập vi bằng. Tại đây, anh Y là Thừa phát lại (em trai của anh Bắc) đã tiến hành lập vi bằng về nội dung vụ việc mua bán trên. Anh Nam không biết việc lập vi bằng như vậy có đúng quy định pháp luật không? Nếu trái quy định thì sẽ bị xử phạt như thế nào? Mong được giải đáp.
Trả lời: Cảm ơn anh Nam đã gửi câu hỏi đến Trung tâm vi bằng Việt Nam. Vấn đề này chúng tôi giải đáp như sau:
Theo quy định, việc xác nhận nội dung, ký tên trong hợp đồng giao dịch liên quan đến nhà đất chỉ thuộc phạm vi thực hiện của công chứng, chứng thực mà không thuộc phạm vi của Thừa phát lại. Đây thuộc trường hợp Thừa phát lại không được lập vi bằng. Và anh Bắc và anh Y là anh em ruột với nhau nên cũng thuộc trường hợp không được lập vi bằng theo quy định.
Ngoài ra, việc chuyển quyền sử dụng đất thuộc trường hợp phải đăng ký nên bắt buộc phải có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu thì việc đăng ký, công chứng, chứng thực đó mới được pháp luật thừa nhận.
Do đó, nếu các Văn phòng thừa phát lại lập vi bằng trong các giao dịch, hợp đồng mua bán đất đai thì đó là hành vi vi phạm pháp luật.
Khoản 4. Khoản 8, khoản 9 Điều 32 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Chính phủ thì các hành vi vi phạm khi lập vi bằng sẽ bị Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi cụ thể sau:
Ngoài hình thức phạt tiền, hành vi vi phạm của Thừa phát lại trong trường hợp trên còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung sau:
Hành vi vi phạm trong việc lập vi bằng nêu trên còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau:
Dựa vào quy định trên, cụ thể hành vi của Thừa phát lại tên Y sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đến 15 triệu đồng đối với mỗi hành vi vi phạm. Kèm theo đó là có thể bị tước quyền sử dụng thẻ. Còn đối với anh Nam và anh Bắc: có khả năng sẽ vướng vào các tranh chấp; bị thiệt hại về vật chất; vi bằng được lập không được công nhận… Nên các bên cần nắm rõ được các quy định của pháp luật trước khi thực hiện việc lập vi bằng.
XEM THÊM: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VI BẰNG MUA BÁN NHÀ ĐẤT NHƯ THẾ NÀO?
Trung tâm vi bằng Việt Nam là một đơn vị tư vấn pháp luật chuyên sâu trong lĩnh vực vi bằng, thừa phát lại tại Việt Nam. Chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ sau:
Trên đây là bài viết về “ Xử phạt vi phạm khi lập vi bằng“. Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn; hỗ trợ dịch vụ Lập vi bằng có thể liên hệ với chúng tôi bằng một trong các phương thức sau:
Trân trọng!
Trung tâm vi bằng Việt Nam chuyên hỗ trợ thủ tục lập vi bằng du…
Hiện nay, ở nước ta nhiều người biết đến hai thuật ngữ Văn phòng Luật…
Hiện nay, Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại đã…
Trong cuộc sống và công việc hàng ngày xuất hiện nhiều trường hợp được người…
Hiện nay, Thừa phát lại và nội dung công việc của Thừa phát lại đã…
Hiện nay, nhiều người lựa chọn cách thức lập vi bằng như là văn bản…